Truyền kỳ mạn lục là một tác phẩm văn học mang màu sắc ma mị, huyền ảo, nhưng ẩn sâu trong đó là bức tranh chân thực về đời sống con người Việt Nam xưa, nơi những mảnh đời hiện lên rõ nét.
Tác giả Nguyễn Dữ (còn được gọi là Nguyễn Dư), sống vào thời Lê sơ và nhà Mạc, sinh mất năm nào không rõ. Ông quê ở xã Đỗ Tùng, nay là xã Phạm Kha, huyện Thanh Miện, Hải Dương. Có ý kiến cho rằng Nguyễn Dữ sống vào thế kỷ 16, là bạn của Phùng Khắc Khoan và là học trò của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông từng làm quan dưới triều Mạc và Lê, nhưng thời gian không lâu thì xin từ quan về Thanh Hóa chăm sóc mẹ, dù có thuyết nói đó chỉ là cái cớ vì ông đã chán ngán thời cuộc.

“Truyền kỳ mạn lục” có nghĩa là “Ghi chép tản mạn những truyện kì lạ được lưu truyền”. Tác phẩm này được Nguyễn Bỉnh Khiêm thẩm định và Vũ Khâm Lân sau này ca ngợi là “thiên cổ kỳ bút”, cho thấy tầm vóc và giá trị to lớn của nó.
Tác phẩm bao gồm 20 truyện, được viết bằng chữ Hán, kể về các sự kiện diễn ra trong các triều đại Lý, Trần, Hồ, và Lê sơ.
Các nhà nghiên cứu đánh giá cao giá trị và tư tưởng của “Truyền kỳ mạn lục”. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thị Băng Thanh nhận định: Thông qua các nhân vật như thần tiên, ma quỷ, hay linh hồn cây cỏ, động vật, tác phẩm phê phán sâu sắc một nền chính trị hỗn loạn, vô kỷ cương. Vua chúa u mê, bề tôi tranh quyền đoạt vị, kẻ nịnh bợ gian hiểm đầy triều đình. Bọn quan lại lạm dụng chức quyền để vơ vét của cải, sách nhiễu dân lành, thậm chí cướp đoạt vợ người, hãm hại chồng người. Trong xã hội đầy rẫy bất công đó, nhiều tệ nạn phát sinh như cờ bạc, trộm cắp, dịch bệnh, và ma quỷ hoành hành. Ngay cả Hộ pháp, Long thần cũng biến thành yêu quái; tăng ni, học trò, thương nhân cũng chìm đắm trong dục vọng.
Hệ quả là những người dân lương thiện, đặc biệt là phụ nữ, phải gánh chịu nhiều đau khổ. Nguyễn Dữ dành sự ưu ái cho những nhân vật này, miêu tả họ là những thiếu phụ xinh đẹp, thủy chung, tần tảo, giàu lòng vị tha nhưng luôn đối mặt với số phận bi thảm. Ngay cả những nhân vật phản diện như nàng Hàn Than, nàng Nhị Khanh, hay các hồn hoa và yêu quái ở Xương Giang cũng trở thành ma quỷ vì số phận đưa đẩy, vì “nghiệp oan”. Họ đáng bị trách phạt nhưng cũng rất đáng thương. Dường như không tìm thấy lối thoát trên con đường hành đạo, Nguyễn Dữ đã chọn cuộc sống ẩn dật, nhưng tâm hồn ông vẫn gắn bó với cõi đời. Ông trân trọng và ca ngợi những nhân cách thanh cao, kiên cường, những anh hùng cứu nước, giúp dân, bất kể địa vị cao thấp. “Truyền kỳ mạn lục” vạch trần chế độ chính trị mục nát, đả kích hôn quân bạo chúa, tham quan ô lại, và những hủ tục. Đồng thời, tác phẩm cũng đề cao quyền sống của con người, tình yêu đôi lứa, hạnh phúc vợ chồng, và thể hiện lý tưởng của tầng lớp sĩ phu ẩn dật.
Theo nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân, tư tưởng chủ đạo của Nguyễn Dữ là Nho giáo. Ông phơi bày cái xấu xa của xã hội nhằm cổ vũ thuần phong mỹ tục, bảo vệ chế độ phong kiến, đồng thời phủ định triều đại suy tàn để hướng tới một vương triều lý tưởng trong tương lai. Ông lên án những kẻ bạo ngược để đề cao đạo “thuần vương”, phê phán vua quan tàn bạo để ca ngợi thánh quân hiền thần, trừng phạt kẻ gian ác, nịnh hót, dâm tà để biểu dương những tấm gương tiết nghĩa, nhân hậu, thủy chung. Tuy nhiên, “Truyền kỳ mạn lục” không chỉ thể hiện tư tưởng nhà Nho, mà còn cho thấy sự dao động của tư tưởng đó trước sự rạn nứt của ý thức hệ phong kiến.
Tạ Ngọc Liên cũng đánh giá rất cao tác phẩm này: “Trong 20 truyện, truyện nào cũng thể hiện một quan điểm chính trị, một thái độ nhân sinh, một ý tưởng đạo đức của Nguyễn Dữ. Đó là những mong muốn của ông về một xã hội mà mọi người được sống yên bình trong nền đức trị, trong sự công bằng, trong tình cảm yêu thương nhân ái giữa con người với con người… Giá trị lớn của Truyền kỳ mạn lục chính là ở những nội dung nhân văn đó.”